Ở nhiều vùng nông thôn và ven đô, cống dân sinh vẫn được đúc thủ công tại chỗ. Không phải vì thiếu lựa chọn, mà vì với quy mô nhỏ, đặt mua cống đúc sẵn từ nhà máy đôi khi không hợp lý về chi phí vận chuyển, hoặc kích thước tiêu chuẩn không khớp với mặt cắt mương hiện hữu. Chính trong bối cảnh đó, cốp pha thép đúc cống tại chỗ trở thành công cụ được nhiều thợ xây và hộ dân lựa chọn.
Vấn đề là phần lớn người dùng tiếp cận cốp pha thép đúc cống theo kiểu “thấy người ta làm sao thì làm vậy”, không nắm rõ nguyên tắc lắp ráp, xử lý bề mặt khuôn hay quy trình tháo dỡ đúng thời điểm. Kết quả là cống đúc ra bị rỗ mặt, nứt góc hoặc tháo khuôn xong bê tông dính chặt vào thép, mất nhiều công cạy và làm hỏng bề mặt khuôn dùng cho lần sau.

Nội dung chính
Bộ cốp pha thép đúc cống gồm những gì?
Cấu tạo cơ bản của bộ khuôn
Một bộ khuôn thép đúc cống dân sinh thông thường bao gồm hai phần chính: khuôn ngoài và khuôn trong (lõi). Khuôn ngoài tạo hình mặt ngoài của ống cống, khuôn trong (lõi rút) tạo lòng rỗng bên trong. Hai bộ phận này phối hợp với nhau để xác định chiều dày thành cống, thường từ 4 đến 7cm tùy khẩu độ và tải trọng thiết kế.
Phần khuôn ngoài thường được chia làm hai nửa khép lại bằng bu lông hoặc chốt khóa để dễ tháo sau khi bê tông đông cứng. Lõi trong có thể là dạng rút thẳng hoặc thu nhỏ bằng cơ cấu cơ khí tùy nhà sản xuất. Kèm theo bộ khuôn thường có các tấm đáy, vành định vị và dụng cụ tháo lắp chuyên dụng.
Thép dùng làm khuôn thường là thép tấm dày 2 đến 4mm, hàn khung sườn gia cường để chống biến dạng khi chịu áp lực bê tông tươi. Bộ khuôn chất lượng tốt có thể tái sử dụng từ 200 đến 500 lần nếu bảo quản đúng cách.
Các kích thước phổ biến trên thị trường
Khuôn đúc cống dân sinh thường có các khẩu độ phổ biến là phi 300, phi 400, phi 500 và phi 600mm. Chiều dài cống đúc mỗi lần thường từ 50cm đến 100cm tùy bộ khuôn. Ngoài dạng tròn, còn có khuôn đúc cống hộp chữ nhật với tiết diện từ 300x300mm đến 600x400mm, phù hợp cho mương thoát nước có mặt cắt vuông.
Khi chọn khuôn, cần xác định rõ khẩu độ cống theo yêu cầu thủy lực của công trình, không nên chọn theo khẩu độ thông dụng nếu chưa tính toán lưu lượng thoát nước cần thiết.

Chuẩn bị trước khi đúc cống
Vệ sinh và bôi tách khuôn
Đây là bước quan trọng bậc nhất nhưng lại hay bị xem nhẹ. Trước mỗi lần đổ bê tông, toàn bộ bề mặt tiếp xúc của khuôn thép (cả khuôn ngoài lẫn lõi trong) phải được vệ sinh sạch cặn bê tông từ lần trước, sau đó bôi một lớp dầu tách khuôn đều khắp.
Dầu tách khuôn có thể là dầu nhớt thải pha loãng, dầu thực vật hoặc sản phẩm chuyên dụng. Quan trọng là bôi đều, không để sót vùng nào, đặc biệt ở các góc, mép và vị trí bu lông khóa. Lớp dầu quá dày sẽ làm bề mặt cống bị bóng ố và giảm bám dính nếu cần trát vữa sau này. Lớp quá mỏng thì khi tháo khuôn bê tông vẫn bám vào thép, nhất là ở các góc cạnh.
Nếu khuôn bị dính bê tông khô từ lần trước mà chưa được làm sạch, không dùng búa đục thẳng vào bề mặt thép vì dễ gây móp méo ảnh hưởng đến độ chính xác kích thước. Dùng đục nhọn góc nhỏ kết hợp ngâm nước để bê tông bở ra rồi cạy nhẹ, sau đó chà bằng giấy nhám thô.
Lắp ráp và kiểm tra độ ổn định của khuôn
Sau khi vệ sinh, tiến hành lắp khuôn theo trình tự: đặt tấm đáy, định vị lõi trong, khép khuôn ngoài và siết chặt tất cả bu lông hoặc chốt khóa. Kiểm tra độ đồng tâm giữa lõi trong và khuôn ngoài bằng cách đo khoảng cách thành cống ở ít nhất 4 vị trí xung quanh, sai lệch cho phép không quá 3mm.
Khuôn sau khi lắp phải đứng thẳng và ổn định trên mặt bằng, không bị nghiêng. Nếu đặt trên nền đất, cần kê lót phẳng và chèn chắc bốn phía để khuôn không bị xô trong khi đầm bê tông. Kiểm tra lại toàn bộ bu lông một lần nữa trước khi đổ.

Quy trình đúc cống bằng khuôn thép đúng kỹ thuật
Chuẩn bị cốt thép (nếu có)
Cống dân sinh ít chịu lực đôi khi được đúc không cốt thép hoặc chỉ dùng lưới thép mỏng. Tuy nhiên, ngay cả với cống loại nhẹ, việc đặt một vòng đai thép tròn trơn phi 6 đến phi 8 ở hai đầu cống sẽ giúp chống nứt vỡ đầu cống khi vận chuyển và lắp đặt. Đây là chi tiết nhỏ nhưng tránh được nhiều thiệt hại thực tế.
Cốt thép cần được định vị chính xác trong lòng thành cống bằng các con kê bê tông hoặc nhựa để đảm bảo lớp bảo vệ cốt thép tối thiểu 20mm. Không dùng đá dăm hay mẩu gạch làm con kê vì sẽ tạo điểm thấm nước sau này.
Trộn và đổ bê tông
Với cống dân sinh thủ công, mác bê tông thường dùng là M150 đến M200, tương ứng tỷ lệ trộn xi măng : cát : đá dăm khoảng 1:2:3 hoặc 1:1.5:3 theo thể tích. Cốt liệu đá dăm nên dùng kích thước 1x2cm để dễ đổ và đầm trong thành cống mỏng. Đá hạt quá to sẽ bị tắc ở khoảng thành cống hẹp, tạo ra lỗ hổng bên trong.
Độ sụt của hỗn hợp bê tông nên giữ ở mức vừa phải, không quá khô cũng không quá nhão. Bê tông quá nhão dễ phân tầng khi đổ, lớp nước xi măng nổi lên trên làm mặt cống yếu và dễ bong tróc.
Đổ bê tông vào khuôn theo từng lớp dày 15 đến 20cm, không đổ một lần đầy khuôn. Mỗi lớp cần đầm kỹ trước khi đổ lớp tiếp theo.
Đầm bê tông trong khuôn cống
Đây là bước quyết định chất lượng bề mặt và độ đặc chắc của cống. Với khuôn tròn thành mỏng, không thể dùng đầm dùi lớn vì không đưa vào được, thay vào đó dùng que thép phi 10 đến phi 16 để chọc đầm thủ công kết hợp gõ nhẹ bên ngoài thành khuôn bằng búa cao su.
Gõ đều xung quanh thành khuôn ngoài khi đổ từng lớp bê tông giúp bê tông chảy lấp đầy vào các góc cạnh và đẩy bọt khí ra ngoài. Đây là kỹ thuật thủ công đơn giản nhưng hiệu quả cao, tránh được hiện tượng rỗ bề mặt sau khi tháo khuôn.
Nếu có máy đầm dùi cỡ nhỏ (đường kính đầu đầm 25 đến 30mm), đây là công cụ lý tưởng cho cống có khẩu độ từ phi 400 trở lên, cho phép đưa đầm vào giữa khoảng trống thành cống để đầm trực tiếp.

Thời gian chờ và tháo khuôn
Sau khi đổ bê tông xong, cần che phủ miệng khuôn đúc cống bằng bao tải ẩm hoặc nilon để giữ độ ẩm cho bê tông trong suốt giai đoạn đông cứng ban đầu. Không để cống vừa đúc xong phơi nắng trực tiếp hoặc bị gió khô nhanh.
Thời gian tháo khuôn phụ thuộc vào nhiệt độ môi trường và mác xi măng sử dụng. Với xi măng thông thường ở điều kiện nhiệt độ 25 đến 35 độ C:
- Tháo khuôn ngoài: sau 16 đến 24 giờ
- Rút lõi trong: sau 12 đến 20 giờ, tùy cơ cấu lõi rút hay lõi thu
Không tháo khuôn quá sớm, bê tông chưa đủ cứng sẽ biến dạng hoặc nứt ngay khi lõi rút ra. Nhưng để quá lâu cũng gây khó tháo vì bê tông co lại và bám chặt hơn vào thép dù đã bôi dầu.
Cách kiểm tra đơn giản: dùng móng tay ấn vào bề mặt cống, nếu không để lại vết lõm thì bê tông đã đủ cứng để tháo khuôn ngoài. Với lõi trong, thử xoay nhẹ hoặc rút thử, nếu cảm thấy lõi bắt đầu nhúc nhích thì đã đến lúc tháo.
Tháo khuôn và xử lý sau đúc
Trình tự tháo khuôn đúng cách
Tháo theo trình tự ngược lại với lắp: nới lỏng bu lông khuôn ngoài trước, tách từng nửa khuôn ra khỏi cống bằng cách gõ nhẹ vào tay cầm hoặc vị trí tháo chuyên dụng. Không cạy bằng xà beng thẳng vào thân khuôn vì dễ làm méo tấm thép.
Rút lõi trong theo phương thẳng đứng hoặc theo hướng thiết kế. Với lõi rút thẳng, cần hai người: một người giữ ổn định cống, một người kéo lõi từ từ và đều tay. Rút giật cục sẽ làm nứt thành cống còn non.
Bảo dưỡng ẩm cho cống sau tháo khuôn
Sau khi tháo khuôn, cống bê tông cần được bảo dưỡng ẩm thêm ít nhất 7 ngày. Cách đơn giản nhất là phủ bao tải gai lên toàn bộ bề mặt cống và tưới nước hai lần mỗi ngày, hoặc ngâm cống trong bể nước nếu có điều kiện. Bảo dưỡng ẩm đúng cách giúp bê tông đạt 70 đến 80% cường độ thiết kế, sau đó tiếp tục phát triển cường độ chậm dần trong nhiều tháng tiếp theo.
Cống bê tông chưa qua bảo dưỡng ẩm đủ sẽ có bề mặt bị nứt chân chim, giảm khả năng chống thấm và dễ bị bong tróc khi tiếp xúc với dòng nước chảy mạnh.
Bảo quản cốp pha thép đúc cống
Tuổi thọ của bộ cốp pha thép đúc cống phụ thuộc rất lớn vào cách bảo quản giữa các lần sử dụng. Sau mỗi đợt đúc, cần làm sạch toàn bộ bê tông bám dính, lau khô và bôi một lớp dầu mỏng bảo vệ trước khi cất. Không để khuôn tiếp xúc trực tiếp với đất ẩm trong thời gian dài vì phần chân khuôn và các mối hàn rất dễ bị gỉ sét ở các điểm tiếp xúc.
Khi không sử dụng, nên dựng khuôn đứng hoặc đặt trên kệ gỗ, tránh xếp chồng nặng lên nhau vì có thể làm cong vênh tấm thép, ảnh hưởng đến độ chính xác kích thước cống trong các lần đúc tiếp theo.
Định kỳ kiểm tra các bu lông, chốt khóa và khớp nối. Thay thế ngay các chi tiết bị mòn hoặc biến dạng để đảm bảo khuôn khép kín tốt, tránh bê tông chảy ra ngoài theo khe hở trong khi đổ.

Những điểm cần lưu ý với người mới sử dụng cốp pha thép đúc cống
Với những ai lần đầu tiếp cận cốp pha thép đúc cống, có một số điểm thực tế cần nắm rõ trước khi bắt tay vào làm:
- Không dùng bộ khuôn đúc cống dân sinh thủ công cho các cống chịu tải trọng nặng (xe tải, xe cơ giới) mà không có thiết kế kết cấu riêng, vì chiều dày thành và hàm lượng cốt thép trong cống thủ công thường không đáp ứng được
- Luôn chuẩn bị đủ vật liệu trước khi đổ, tránh trộn bê tông nhiều lần bị gián đoạn làm xuất hiện mạch lạnh giữa các lớp
- Nếu đúc cống tại vị trí có mực nước ngầm cao, cần nâng nền đặt khuôn lên cao hơn và che chắn để nước không xâm nhập vào khuôn trong quá trình đổ
- Thời điểm đúc tốt nhất trong ngày là buổi sáng sớm hoặc chiều mát, tránh đổ bê tông giữa trưa nắng gắt vì bê tông mất nước nhanh, khó kiểm soát độ sụt
Dùng khuôn thép để đúc cống tại chỗ không phải kỹ thuật phức tạp, nhưng nó đòi hỏi sự tỉ mỉ ở từng công đoạn nhỏ. Bôi dầu đủ hay không, đầm kỹ hay bỏ qua, tháo khuôn đúng lúc hay sớm quá, mỗi thứ đó đều in dấu lên chất lượng sản phẩm cuối cùng. Cống đúc đúng kỹ thuật không chỉ đẹp hơn mà còn dùng được lâu hơn nhiều lần so với cống làm ẩu dù cùng một bộ khuôn, cùng lượng xi măng và cùng công sức bỏ ra.
Một số sản phẩm khuôn đúc mẫu tại MQB:
Khuôn Đúc Dải Phân Cách Bê Tông
Khuôn Đúc Lối Đi Sân Vườn Model G
Khuôn Đúc Lối Đi Sân Vườn Bằng Thép
